Mỹ Nên Rút Quân khỏi Iraq…
Thế hệ 1975 — Tin tổng hợpNhóm Nghiên Cứu Iraq: Mỹ Nên Rút Quân Vào Năm 2008
“Tình hình ở Iraq là nghiêm trọng và ngày một xấu đi. Không có giải pháp nào bảo đảm thành công, nhưng viễn tượng có thể cải thiện được”.
Trên đây là tuyên bố của Nhóm Nghiên cứu Iraq (Iraq Study Group) khi công bố bản phúc trình gồm 79 đề nghị trong 142 trang, đã được nhiều người trông đợi, hôm thứ Tư.Nhóm nghiên cứu Iraq gồm lưỡng đảng gồm 10 người thuộc hai đảng Dân Chủ (DC) và Cộng Hoà (CH) viên đứng đầu là cựu ngoại trưởng James Baker (CH) và cựu dân biểu Lee Hamilton (DC).
Phúc trình IRAQNguồn/Ảnh: cbc.ca/AP
Trong bản phúc trình đến tổng thống Bush và quốc hội, nhóm nghiên cứu đề nghị chính phủ Hoa Kỳ thực thi 79 điểm để thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ tại Iraq, trong đó có đối thoại trực tiếp với Iran và Syria trong khuôn khổ một cuộc “tấn công ngoại giao”. Bản phúc trình còn nói đường lối hiện tại của chính quyền Bush không có hiệu quả và khả năng gây ảnh hưởng tại Iraq của Hoa Kỳ cũng ngày một giảm đi.Chính quyền Bush đã nhiều lần từ chối kêu gọi sự giúp đỡ từ Iran và Syria. Trong khi đó nhóm nghiên cứu nói rằng những quốc gia chính trong và ngoài khu vực nên thành lập một nhóm yểm trợ Iraq để Iraq có được an ninh và sự hoà hợp chính trị một cách lâu dài. Ông Hamilton nói: “Nếu chúng ta không đối thoại với các quốc gia khác thì chúng ta sẽ không đạt được tiến bộ”. Bản phúc trình còn cảnh báo quốc hội rằng nếu Hoa Kỳ không hành động thì sẽ có những hậu quả khốc liệt ở trong và ngoài nước Mỹ.Theo bản phúc trình thì bạo động ngày càng tăng trên nhiều phương diện. Những cuộc tấn công nhắm vào quân Mỹ và liên quân ngày càng gia tăng và khoảng 3000 thường dân Iraq bị sát hại mỗi tháng. Sứ mệnh của quân Mỹ tại Iraq nên được chuyển từ tác chiến sang thành huấn luyện và hỗ trợ quân đội Iraq, và các đơn vị tác chiến không cần thiết nên rút khỏi Iraq chậm nhất là vào quý 1 năm 2008. Hoa Kỳ không nên cam kết một cách không rõ ràng để giữ một số quân lớn tại Iraq. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu không đưa ra một kế hoạch rút quân cụ thể nào. Bản phúc trình còn đề nghị Hoa Kỳ nên làm việc với các nhà lãnh đạo Iraq để giúp đạt được những mốc quan trọng về hoà giải quốc gia, an ninh và sự lãnh đạo. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng kêu gọi cải thiện hệ thống tư pháp của Iraq, lãnh vực dầu hỏa và nổ lực tái thiết của Hoa Kỳ .
TT Bush ngồi giữa Lee Hamilton (T) và James Baker (P)Nguồn/Ảnh: cnn.com/AP
Một số nhân vật quan trọng của đảng Dân Chủ ca ngợi bản phúc trình và gọi đó là một hình thức khiển trách đối với chính sách Iraq của Nhà Trắng. Trong khi đó thì ông Bush nói bản phúc trình đánh giá khắc khe tình hình Iraq. Người đứng đầu Nhà Trắng còn nói rằng Tòa Bạch Ốc sẽ xem xét mọi đề nghị một cách kỹ lưỡng và sẽ làm việc với quốc hội để giải quyết vấn đề Iraq. Xuất hiện trên show truyền hình “Larry King Live” của đài CNN tối thứ Tư, ông Tony Snow, người phát ngôn của Nhà Trắng, nói rằng tổng thống Bush sẽ so sánh bản phúc trình của nhóm nghiên cứu Iraq với hai bản báo cáo khác sau này, một của Ban Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) và một của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, trước khi công bố những thay đổi về chính sách Iraq.Riêng tại Iraq thì chính phủ nước này nói bản phúc trình kêu gọi thay đổi chính sách của Mỹ tại Iraq trùng hợp với kế hoạch của họ để ngăn chận tình trạng bạo động tồi tệ tại đâỵ Phát biểu trên đài Al-Arabiya, phó thủ tướng Iraq, ông Barham Saleh, nói không thể dựa vào quân đội nước ngoài một cách tuyệt đối, trọng tâm trước mắt là tăng cường sức mạnh cho các lực lượng gìn giữ an ninh người Iraq. Hôm bản phúc trình được công bố thì có đến 10 binh sĩ Hoa Kỳ và 8 thường dân Iraq bị thiệt mạng. Như vậy là trong 6 ngày đầu của tháng 12 đã có đến 30 binh sĩ Mỹ bị thiệt mạng, so với 69 binh sĩ của toàn tháng trước. Từ khi cuộc chiến bắt đầu đến nay có ít nhất 2 ngàn 918 lính Mỹ tử trận.Mốc điểm đề nghị trong Phúc trình của Nhóm Nghiên cứu Iraq• Cuối 2006, đầu 2007: Định ngày bầu cử và thong qua một số dự luât. Tăng chi bảo đảm an ninh. Tăng lãi suất, và nâng giá đồng dinar (tiền Iraq)• 3/2007: trưng cầu dân ý về các tu chính hiến pháp• 4/2007: Iraq kiểm soát quân đội• 5/2007: Thông qua những thoả ước ân xá hoàn tất tiến trình hoà giải• 6/2007: Bầu cử tỉnh• 9/2007: Người Iraq trách nhiệm kiểm soát tỉnh lị toàn quốc• 12/2007: Hoàn tất cuộc tự bảo vệ (Iraq hoá với hỗ trợ của Hoa Kỳ)• Đầu năm 2008: Hoàn tất huấn luyện quân đội, quân trang. Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu rút khỏi IraqĐồng chủ tịch của bản phúc trình, cựu ngoại trưởng James Baker nói, “Họ (dân tộc Iraq) được giải thoát khỏi cơn ác mộng của một chế độ bạo ngược để phải đối diện với cơn ác mộng đầy bạo động tàn ác. Đã đến giờ tìm lối đi tới mới”.
Nguồn: (1) Iraq Study Group: Change Iraq strategy now(2) Iraqi leaders play down U.S. study group's report(3) 11 U.S. troops killed in Iraq(4) The Iraq Study Group report=======================
Ủy ban Baker-Hamilton thiếu thực tế Thursday, December 07, 2006
Ngô Nhân Dụng
Dù chỉ đọc bản tin sơ sài trên Nhật báo Người Việt về bản phúc trình của Ủy Ban Baker-Hamilton, quý vị cũng có thể thấy trong đó một điểm mâu thuẫn nội tại và căn bản: Ủy ban đưa ra những chính sách để thực hiện trên đường dài, trong khi nhắm đạt được một kết quả ngắn hạn, trong chưa đầy vài năm.
Chính sách lâu dài là mở cuộc tấn công ngoại giao mới (New Diplomatic Offensive, chữ viết hoa trong bản phúc trình). Thí dụ, chấp nhận đối thoại với Iran và Syria, các nước láng giềng của Iraq. Mặt khác, phải cùng các quốc gia Á rập trong vùng giải quyết cuộc xung đột Israel và Palestine, một vấn đề mấu chốt để được các nước Hồi Giáo hợp tác với Mỹ. Kết quả ngắn hạn là chuyển giao nhiệm vụ an ninh lãnh thổ cho chính phủ Iraq để quân Mỹ chỉ còn đóng vai huấn luyện và hỗ trợ, trong vòng 16 tháng nữa có thể rút bớt hàng trăm ngàn quân Mỹ.
Hai vấn đề có liên hệ với nhau.
Nội loạn ở Iraq có thể giảm bớt nếu Iran hợp tác khuyên can các nhóm người theo phái Shi A ở Iraq; nếu Syria ngăn các đám dân quân Sun Ni từ trong và ngoài Iraq, không cho họ dùng Syria làm nơi xâm nhập và trú ẩn; nếu các nước Á rập phái Sun Ni như Sau đi, Jordan, Ai Cập, vân vân, bớt trợ giúp người Sun Ni ở Iraq và khuyên họ bớt phá phách chính phủ Baghdad. Nhưng muốn được các nước đó hợp tác, chính phủ Mỹ sẽ phải vận động nhiều năm, có thể nhiều nhiệm kỳ tổng thống, để mặc cả cho tới khi thỏa mãn nhiều đòi hỏi và điều kiện của họ mà nước Mỹ không thiệt thòi. Biết nước Mỹ mở mặt trận ngoại giao, các quốc gia trên sẽ bắt đầu đặt các điều kiện, yêu cầu Mỹ trả giá. Trước khi đạt được sự thỏa thuận của bấy nhiêu quyền lợi xung khắc, các nước trên khó giúp gì cho chính phủ Mỹ. Ngược lại, họ có thể dùng ảnh hưởng của họ trên các nhóm bên trong Iraq để buộc Mỹ phải nhượng bộ nhiều hơn.
Các hành động ngắn hạn như Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra trong thực chất cũng không khác gì những điều mà chính phủ Bush đang cố thực hiện: Huấn luyện quân đội và cảnh sát Iraq, thúc giục chính phủ Maliki hòa hợp các nhóm tôn giáo và chủng tộc khác nhau, bảo vệ an ninh và cung cấp các dịch vụ tối thiểu cho dân chúng. Quân đội Mỹ chưa làm được các điều trên vì chính phủ Bush phạm những sai lầm chiến thuật, đã bỏ qua không vận động ngoại giao, nhưng cũng vì khả năng vận dụng chỉ có thế thôi, và tình trạng thực tế ở Iraq rắc rối hơn những gì mà các nhân vật trong ủy ban biết rồi dựa theo đó mà đề nghị thay đổi. Ðúng như các tác giả thú nhận, bản phúc trình của Ủy ban Baker-Hamilton không đem đến cho nước Mỹ một “công thức nhiệm mầu” để giải quyết bế tắc ở Iraq.
Nhưng khi đưa ra các đề nghị để đạt tới mục tiêu rút quân khỏi Iraq, ủy ban đã đặt những cột mốc và điều kiện cho chính phủ Iraq, gián tiếp đặt cho chính phủ Bush, mà chính những điều kiện đó, khi công bố và thực hiện có thể khiến việc thực hiện lộ trình của họ gặp nhiều khó khăn hơn.
Ủy Ban Baker-Hamilton tạo áp lực trên Thủ Tướng Nouri al Maliki bằng những “cột mốc” đo lường sự thành công của ông, cũng không khác gì các đại biểu quốc hội Mỹ ngày xưa thường đưa ra những điều kiện để Mỹ tiếp tục viện trợ chính phủ miền Nam Việt Nam. Nhưng địa vị của ông Maliki khó khăn hơn các ông tổng thống Việt Nam Cộng Hòa rất nhiều. Vì các tổng thống Việt Nam thường nắm thực quyền chỉ huy quân đội cùng guồng máy hành chánh, chỉ phải đối đầu với một kẻ địch là Cộng Sản, còn ông Maliki chưa biết đang nắm được những gì ngoài danh hiệu một ông thủ tướng làm việc trong “Khu vực Xanh” được quân Mỹ bảo vệ. Ông không những phải đối phó với các đòi hỏi của nhiều phe Sun Ni đối lập mà còn phải đối phó với các nhóm Shi A đồng đạo nữa, chưa kể các áp lực từ bên ngoài. Ðố ai viết được đầy đủ một bản tóm tắt những động cơ và đòi hỏi của bấy nhiêu phe phái ở Iraq, trong khi chính họ cũng thay đổi theo tình hình trên bàn cờ chính trị và quân sự ở Iraq. Chính bản phúc trình của Ủy Ban Baker-Hamilton cũng thay đổi bàn cờ đó, khiến cho việc tiên đoán các nước cờ mới khó hơn.
Ủy Ban Baker-Hamilton viết rằng “Chính phủ Mỹ phải vạch rõ cho chính phủ Iraq biết là dù họ không thi hành đúng các chương trình được Mỹ đòi hỏi, nước Mỹ sẽ vẫn xúc tiến kế các hoạch của mình, kể cả việc tái phối trí quân đội (nói cách khác, rút quân).”
Khi nghe những lời hăm dọa đó, các đối thủ của ông Maliki có thể sẽ trì hoãn tất cả mọi cộng tác với ông ta, để chờ ngày quân Mỹ rút. Nhiều lãnh tụ Shi A cũng muốn ngồi vào ghế của ông Maliki, chắc sẽ đợi cho ông thất bại để bị Mỹ bỏ rơi. Nhất là sau khi cố vấn an ninh của Tổng thống Bush đã tỏ ý nghi ngờ khả năng của ông ta. Các phe nhóm Sun Ni cũng đủ kiên gan để chờ ngày quân mỹ rút, sẽ đưa ra các đòi hỏi mới trong việc chia sẻ nguồn lợi dầu lửa, đã điều kẹt nhất trong việc hòa giả giữa ba phe Shi A, Sun Ni và người Kurd hiện nay.
Những tín đồ Shi A thực sự đã được quân Mỹ giải phóng khỏi ách độc tài của Saddam Hussein, nhưng họ không hoàn toàn tin tưởng vào thiện ý của người Mỹ. Năm 1991 chính phủ Mỹ đã kêu gọi nổi dậy chống Saddam Hussein, sau đó bỏ mặc cho ông Hussein tàn sát họ, nhiều người phải trốn sang Iran. Bây giờ họ nên tin vào các lời hứa hẹn của Mỹ hay của Iran? Nước Iran đồng đạo lúc nào cũng ở bên cạnh, trong khi nước Mỹ ở quá xa và quyền lợi khắp thế giới quá rộng lớn, đã từng nhường Việt Nam cho Nga và Trung Quốc để đổi lại những thỏa hiệp hạn chế vũ khí hạch tâm với Nga và Mao Trạch Ðông mở cửa nước Trung Hoa. Từ khi chính phủ Mỹ giúp lập nên một chính quyền Iraq, đã có ít nhất ba ông thủ tướng lên xuống. Ðối với chính phủ Mỹ thì họ không quan tâm đến cá nhân mà chỉ coi chức vụ thủ tướng, với các chương trình hành động mới là quan trọng. Ðó là lối suy nghĩ khi nước Mỹ chọn một đảng cầm quyền. Nhưng ở các nước khác, nhất là trong thế giới Á rập, liên hệ cá nhân quan trọng hơn tính chất của những vai trò do cá nhân đó đóng.
Một trong những cột mốc mà Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra là “hòa hợp giữa các phe phái ở Iraq.” Làm cách nào để hòa hợp họ? Quý vị trong Ủy ban chỉ đến Iraq khoảng 4 ngày, làm việc hoàn toàn trong Khu vực Xanh, có thể nói là không gặp gỡ một thường dân Iraq nào. Những đại biểu của các phe phái gặp họ không thể nói hết những mâu thuẫn và yêu cầu của họ, vì nhiều điều yêu cầu đó không thể nói trước công chúng! Các lãnh tụ phe phái đó cũng có thể bị chính những người trong phe họ lật đổ hay li khai; một tổ chức có kỷ luật và đoàn kết nhất là Dân quân Madhi của giáo sĩ Moqtada al-Sadr nay cũng đã có những nhóm ly khai. Khi nào thì chính phủ hoặc quốc hội Mỹ có thể ký giấy chứng nhận là ông Maliki đã thực hiện đủ và đạt được cột mốc “hòa giải”?
Ủy Ban Baker-Hamilton đề nghị phải tăng cường việc huấn luyện và quân đội và cảnh sát Iraq. Quân đội này hiện có 138,000 người nhưng các toán quân đó thực sự có tuân lệnh của chính phủ Maliki hay họ sẽ theo lệnh ngầm của các phe phái, điều này không biết được. Ðạo quân đó không phải chỉ thiếu huấn luyện mà còn thiếu đủ thứ trang bị và vũ khí. Số 188,000 cảnh sát còn bị ảnh hưởng của các giáo sĩ nhiều hơn nữa. Trong vùng ổn định nhất thuộc quân Anh chiếm đóng, nhiều toán cảnh sát đã đóng vai trò dân quân của một phe đi bắt, giết những người thuộc phe khác.
Một cột mốc khác mà Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra là chính phủ Iraq phải bảo đảm được an ninh ở trong nước. An ninh hay không hoàn toàn tùy thuộc các phe phái ở Iraq có chịu nhường nhịn nhau để cùng chống lại các toán du kích từ bên ngoài xâm nhập hay không. Họ sẽ chấp nhận được lẫn nhau khi nào mỗi nhóm dù nhỏ nhất cũng cảm thấy được an toàn, không lo bị một hay nhiều nhóm khác lấn áp hoặc tiêu diệt. Chỉ cần một nhóm nhỏ, cho tới giờ vẫn vô danh, đặt bom phá một đền thờ Shi A lớn ở Samara đầu năm nay là đủ tạo nên những vụ tàn phá và giết tróc dây chuyền ngày càng mạnh hơn cho tới giờ chưa dứt. Trong lịch sử, nước Iraq được sống trong an ninh khi có những chế độ độc tài kiểu Saddam Hussein đàn áp tất cả các nhóm khác. Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận một chế độ như vậy. Bây giờ chỉ có một cách là chia vùng ảnh hưởng cho mỗi nhóm và giúp họ đều mạnh để tự bảo vệ, khi đó họ dễ dàng ngồi xuống nói chuyện với nhau hơn!
Và chỉ khi nào tình hình an ninh tạm ổn mới nói được đến chuyện thực hiện cột mốc thứ ba mà Ủy ban Baker-Hamilton đòi hỏi, là chính phủ Iraq phải cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho dân chúng, như bất cứ tổ chức nào tự nhận là một chính phủ. Cung cấp điện, nước, nhà thương, trường học, hút dầu, xuất cảng dầu và lọc dầu, đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vân vân.
Cho nên, những điều kiện mà Ủy Ban Baker-Hamilton đòi hỏi rút lại vào một vấn đề an ninh. Một chính phủ phôi thai như ở Iraq chỉ đạt được cột mốc đó nếu dân chúng tin rằng họ có thực quyền, có thực lực, không lo nay bị Mỹ chê, mai bị Mỹ trách, lúc nào cũng sợ Mỹ bỏ rơi! Muốn có một chính quyền như vậy, ở một nước phức tạp trong một vùng Trung đông phức tạp, không thể đặt kỳ hạn một, hai năm được. Cùng với cuộc tấn công ngoại giao lâu dài, nước Mỹ phải cam kết ở lại Iraq lâu dài, thì mới bảo đảm được một nước Iraq có an ninh để tự hòa giải và xây dựng.
Hầu như các đề nghị của Ủy Ban Baker-Hamilton không bảo đảm được điều đó, ngược lại, chỉ khiến cho địa vị của chính phủ Iraq hiện nay càng bất định, có thể lung lay hơn! Người ta có thể chỉ trích Tổng Thống George W. Bush nhiều thứ, nhưng phải công nhận ông là người có giác quan thứ sáu về chính trị. Một ngày sau khi Ủy ban Baker-Hamilton phúc trình, ông Bush cùng ông Blair lên tiếng cam kết ủng hộ ông Maliki. Ít nhất, ông Bush đã xóa bớt những mối nghi ngờ về thực tâm của chính phủ ông.
Một điều đáng ngạc nhiên là sau khi bản phúc trình Baker-Hamilton được công bố, ai cũng khen tính chất thực tế của quý vị trong ủy ban này. So với những khẩu hiệu mà ông Bush vẫn hô, như xây dựng dân chủ, chống khủng bố toàn cầu, bảo vệ nền văn minh nhân loại, vân vân, thì các điều Ủy ban Baker-Hamilton nêu lên coi thực tế hơn thật. Nhưng nhìn kỹ thì thấy các đề nghị của ủy ban có vẻ như chỉ là một bản liệt kê những điều mong ước hơn là những hành động thực tế.
Cuối cùng, Ủy Ban Baker-Hamilton có ích lợi gì trong vụ Iraq này? Họ có thể đóng vai che đỡ cho một chính sách thất bại, cho khỏi làm mất uy tín của đảng Cộng Hòa trong kỳ bầu cử năm 2008. Hai năm nữa, dù tình hình Iraq ra sao, người ta vẫn có thể nói rằng chính phủ Mỹ đã làm hết sức theo các khuyến cáo của một ủy ban gồm các nhà thông thái thuộc cả hai đảng. Mọi thất bại đều có thể đổ lên đầu người Iraq, vì họ bất lực, hoặc không có thiện chí, hoặc chưa đủ văn minh để hiểu những người điều Mỹ muốn giúp họ!
Bạn thử giúp một ý kiến hay một giải pháp khả thi. Cảm ơn nhé. Thuận Phong
Friday, December 8, 2006
Tim Mot Giai Phap cho Iraq
Mỹ Nên Rút Quân khỏi Iraq…
Thế hệ 1975 — Tin tổng hợpNhóm Nghiên Cứu Iraq: Mỹ Nên Rút Quân Vào Năm 2008
“Tình hình ở Iraq là nghiêm trọng và ngày một xấu đi. Không có giải pháp nào bảo đảm thành công, nhưng viễn tượng có thể cải thiện được”.
Trên đây là tuyên bố của Nhóm Nghiên cứu Iraq (Iraq Study Group) khi công bố bản phúc trình gồm 79 đề nghị trong 142 trang, đã được nhiều người trông đợi, hôm thứ Tư.Nhóm nghiên cứu Iraq gồm lưỡng đảng gồm 10 người thuộc hai đảng Dân Chủ (DC) và Cộng Hoà (CH) viên đứng đầu là cựu ngoại trưởng James Baker (CH) và cựu dân biểu Lee Hamilton (DC).
Phúc trình IRAQNguồn/Ảnh: cbc.ca/AP
Trong bản phúc trình đến tổng thống Bush và quốc hội, nhóm nghiên cứu đề nghị chính phủ Hoa Kỳ thực thi 79 điểm để thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ tại Iraq, trong đó có đối thoại trực tiếp với Iran và Syria trong khuôn khổ một cuộc “tấn công ngoại giao”. Bản phúc trình còn nói đường lối hiện tại của chính quyền Bush không có hiệu quả và khả năng gây ảnh hưởng tại Iraq của Hoa Kỳ cũng ngày một giảm đi.Chính quyền Bush đã nhiều lần từ chối kêu gọi sự giúp đỡ từ Iran và Syria. Trong khi đó nhóm nghiên cứu nói rằng những quốc gia chính trong và ngoài khu vực nên thành lập một nhóm yểm trợ Iraq để Iraq có được an ninh và sự hoà hợp chính trị một cách lâu dài. Ông Hamilton nói: “Nếu chúng ta không đối thoại với các quốc gia khác thì chúng ta sẽ không đạt được tiến bộ”. Bản phúc trình còn cảnh báo quốc hội rằng nếu Hoa Kỳ không hành động thì sẽ có những hậu quả khốc liệt ở trong và ngoài nước Mỹ.Theo bản phúc trình thì bạo động ngày càng tăng trên nhiều phương diện. Những cuộc tấn công nhắm vào quân Mỹ và liên quân ngày càng gia tăng và khoảng 3000 thường dân Iraq bị sát hại mỗi tháng. Sứ mệnh của quân Mỹ tại Iraq nên được chuyển từ tác chiến sang thành huấn luyện và hỗ trợ quân đội Iraq, và các đơn vị tác chiến không cần thiết nên rút khỏi Iraq chậm nhất là vào quý 1 năm 2008. Hoa Kỳ không nên cam kết một cách không rõ ràng để giữ một số quân lớn tại Iraq. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu không đưa ra một kế hoạch rút quân cụ thể nào. Bản phúc trình còn đề nghị Hoa Kỳ nên làm việc với các nhà lãnh đạo Iraq để giúp đạt được những mốc quan trọng về hoà giải quốc gia, an ninh và sự lãnh đạo. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng kêu gọi cải thiện hệ thống tư pháp của Iraq, lãnh vực dầu hỏa và nổ lực tái thiết của Hoa Kỳ .
TT Bush ngồi giữa Lee Hamilton (T) và James Baker (P)Nguồn/Ảnh: cnn.com/AP
Một số nhân vật quan trọng của đảng Dân Chủ ca ngợi bản phúc trình và gọi đó là một hình thức khiển trách đối với chính sách Iraq của Nhà Trắng. Trong khi đó thì ông Bush nói bản phúc trình đánh giá khắc khe tình hình Iraq. Người đứng đầu Nhà Trắng còn nói rằng Tòa Bạch Ốc sẽ xem xét mọi đề nghị một cách kỹ lưỡng và sẽ làm việc với quốc hội để giải quyết vấn đề Iraq. Xuất hiện trên show truyền hình “Larry King Live” của đài CNN tối thứ Tư, ông Tony Snow, người phát ngôn của Nhà Trắng, nói rằng tổng thống Bush sẽ so sánh bản phúc trình của nhóm nghiên cứu Iraq với hai bản báo cáo khác sau này, một của Ban Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) và một của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, trước khi công bố những thay đổi về chính sách Iraq.Riêng tại Iraq thì chính phủ nước này nói bản phúc trình kêu gọi thay đổi chính sách của Mỹ tại Iraq trùng hợp với kế hoạch của họ để ngăn chận tình trạng bạo động tồi tệ tại đâỵ Phát biểu trên đài Al-Arabiya, phó thủ tướng Iraq, ông Barham Saleh, nói không thể dựa vào quân đội nước ngoài một cách tuyệt đối, trọng tâm trước mắt là tăng cường sức mạnh cho các lực lượng gìn giữ an ninh người Iraq. Hôm bản phúc trình được công bố thì có đến 10 binh sĩ Hoa Kỳ và 8 thường dân Iraq bị thiệt mạng. Như vậy là trong 6 ngày đầu của tháng 12 đã có đến 30 binh sĩ Mỹ bị thiệt mạng, so với 69 binh sĩ của toàn tháng trước. Từ khi cuộc chiến bắt đầu đến nay có ít nhất 2 ngàn 918 lính Mỹ tử trận.Mốc điểm đề nghị trong Phúc trình của Nhóm Nghiên cứu Iraq• Cuối 2006, đầu 2007: Định ngày bầu cử và thong qua một số dự luât. Tăng chi bảo đảm an ninh. Tăng lãi suất, và nâng giá đồng dinar (tiền Iraq)• 3/2007: trưng cầu dân ý về các tu chính hiến pháp• 4/2007: Iraq kiểm soát quân đội• 5/2007: Thông qua những thoả ước ân xá hoàn tất tiến trình hoà giải• 6/2007: Bầu cử tỉnh• 9/2007: Người Iraq trách nhiệm kiểm soát tỉnh lị toàn quốc• 12/2007: Hoàn tất cuộc tự bảo vệ (Iraq hoá với hỗ trợ của Hoa Kỳ)• Đầu năm 2008: Hoàn tất huấn luyện quân đội, quân trang. Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu rút khỏi IraqĐồng chủ tịch của bản phúc trình, cựu ngoại trưởng James Baker nói, “Họ (dân tộc Iraq) được giải thoát khỏi cơn ác mộng của một chế độ bạo ngược để phải đối diện với cơn ác mộng đầy bạo động tàn ác. Đã đến giờ tìm lối đi tới mới”.
Nguồn: (1) Iraq Study Group: Change Iraq strategy now(2) Iraqi leaders play down U.S. study group's report(3) 11 U.S. troops killed in Iraq(4) The Iraq Study Group report=======================
Ủy ban Baker-Hamilton thiếu thực tế Thursday, December 07, 2006
Ngô Nhân Dụng
Dù chỉ đọc bản tin sơ sài trên Nhật báo Người Việt về bản phúc trình của Ủy Ban Baker-Hamilton, quý vị cũng có thể thấy trong đó một điểm mâu thuẫn nội tại và căn bản: Ủy ban đưa ra những chính sách để thực hiện trên đường dài, trong khi nhắm đạt được một kết quả ngắn hạn, trong chưa đầy vài năm.
Chính sách lâu dài là mở cuộc tấn công ngoại giao mới (New Diplomatic Offensive, chữ viết hoa trong bản phúc trình). Thí dụ, chấp nhận đối thoại với Iran và Syria, các nước láng giềng của Iraq. Mặt khác, phải cùng các quốc gia Á rập trong vùng giải quyết cuộc xung đột Israel và Palestine, một vấn đề mấu chốt để được các nước Hồi Giáo hợp tác với Mỹ. Kết quả ngắn hạn là chuyển giao nhiệm vụ an ninh lãnh thổ cho chính phủ Iraq để quân Mỹ chỉ còn đóng vai huấn luyện và hỗ trợ, trong vòng 16 tháng nữa có thể rút bớt hàng trăm ngàn quân Mỹ.
Hai vấn đề có liên hệ với nhau.
Nội loạn ở Iraq có thể giảm bớt nếu Iran hợp tác khuyên can các nhóm người theo phái Shi A ở Iraq; nếu Syria ngăn các đám dân quân Sun Ni từ trong và ngoài Iraq, không cho họ dùng Syria làm nơi xâm nhập và trú ẩn; nếu các nước Á rập phái Sun Ni như Sau đi, Jordan, Ai Cập, vân vân, bớt trợ giúp người Sun Ni ở Iraq và khuyên họ bớt phá phách chính phủ Baghdad. Nhưng muốn được các nước đó hợp tác, chính phủ Mỹ sẽ phải vận động nhiều năm, có thể nhiều nhiệm kỳ tổng thống, để mặc cả cho tới khi thỏa mãn nhiều đòi hỏi và điều kiện của họ mà nước Mỹ không thiệt thòi. Biết nước Mỹ mở mặt trận ngoại giao, các quốc gia trên sẽ bắt đầu đặt các điều kiện, yêu cầu Mỹ trả giá. Trước khi đạt được sự thỏa thuận của bấy nhiêu quyền lợi xung khắc, các nước trên khó giúp gì cho chính phủ Mỹ. Ngược lại, họ có thể dùng ảnh hưởng của họ trên các nhóm bên trong Iraq để buộc Mỹ phải nhượng bộ nhiều hơn.
Các hành động ngắn hạn như Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra trong thực chất cũng không khác gì những điều mà chính phủ Bush đang cố thực hiện: Huấn luyện quân đội và cảnh sát Iraq, thúc giục chính phủ Maliki hòa hợp các nhóm tôn giáo và chủng tộc khác nhau, bảo vệ an ninh và cung cấp các dịch vụ tối thiểu cho dân chúng. Quân đội Mỹ chưa làm được các điều trên vì chính phủ Bush phạm những sai lầm chiến thuật, đã bỏ qua không vận động ngoại giao, nhưng cũng vì khả năng vận dụng chỉ có thế thôi, và tình trạng thực tế ở Iraq rắc rối hơn những gì mà các nhân vật trong ủy ban biết rồi dựa theo đó mà đề nghị thay đổi. Ðúng như các tác giả thú nhận, bản phúc trình của Ủy ban Baker-Hamilton không đem đến cho nước Mỹ một “công thức nhiệm mầu” để giải quyết bế tắc ở Iraq.
Nhưng khi đưa ra các đề nghị để đạt tới mục tiêu rút quân khỏi Iraq, ủy ban đã đặt những cột mốc và điều kiện cho chính phủ Iraq, gián tiếp đặt cho chính phủ Bush, mà chính những điều kiện đó, khi công bố và thực hiện có thể khiến việc thực hiện lộ trình của họ gặp nhiều khó khăn hơn.
Ủy Ban Baker-Hamilton tạo áp lực trên Thủ Tướng Nouri al Maliki bằng những “cột mốc” đo lường sự thành công của ông, cũng không khác gì các đại biểu quốc hội Mỹ ngày xưa thường đưa ra những điều kiện để Mỹ tiếp tục viện trợ chính phủ miền Nam Việt Nam. Nhưng địa vị của ông Maliki khó khăn hơn các ông tổng thống Việt Nam Cộng Hòa rất nhiều. Vì các tổng thống Việt Nam thường nắm thực quyền chỉ huy quân đội cùng guồng máy hành chánh, chỉ phải đối đầu với một kẻ địch là Cộng Sản, còn ông Maliki chưa biết đang nắm được những gì ngoài danh hiệu một ông thủ tướng làm việc trong “Khu vực Xanh” được quân Mỹ bảo vệ. Ông không những phải đối phó với các đòi hỏi của nhiều phe Sun Ni đối lập mà còn phải đối phó với các nhóm Shi A đồng đạo nữa, chưa kể các áp lực từ bên ngoài. Ðố ai viết được đầy đủ một bản tóm tắt những động cơ và đòi hỏi của bấy nhiêu phe phái ở Iraq, trong khi chính họ cũng thay đổi theo tình hình trên bàn cờ chính trị và quân sự ở Iraq. Chính bản phúc trình của Ủy Ban Baker-Hamilton cũng thay đổi bàn cờ đó, khiến cho việc tiên đoán các nước cờ mới khó hơn.
Ủy Ban Baker-Hamilton viết rằng “Chính phủ Mỹ phải vạch rõ cho chính phủ Iraq biết là dù họ không thi hành đúng các chương trình được Mỹ đòi hỏi, nước Mỹ sẽ vẫn xúc tiến kế các hoạch của mình, kể cả việc tái phối trí quân đội (nói cách khác, rút quân).”
Khi nghe những lời hăm dọa đó, các đối thủ của ông Maliki có thể sẽ trì hoãn tất cả mọi cộng tác với ông ta, để chờ ngày quân Mỹ rút. Nhiều lãnh tụ Shi A cũng muốn ngồi vào ghế của ông Maliki, chắc sẽ đợi cho ông thất bại để bị Mỹ bỏ rơi. Nhất là sau khi cố vấn an ninh của Tổng thống Bush đã tỏ ý nghi ngờ khả năng của ông ta. Các phe nhóm Sun Ni cũng đủ kiên gan để chờ ngày quân mỹ rút, sẽ đưa ra các đòi hỏi mới trong việc chia sẻ nguồn lợi dầu lửa, đã điều kẹt nhất trong việc hòa giả giữa ba phe Shi A, Sun Ni và người Kurd hiện nay.
Những tín đồ Shi A thực sự đã được quân Mỹ giải phóng khỏi ách độc tài của Saddam Hussein, nhưng họ không hoàn toàn tin tưởng vào thiện ý của người Mỹ. Năm 1991 chính phủ Mỹ đã kêu gọi nổi dậy chống Saddam Hussein, sau đó bỏ mặc cho ông Hussein tàn sát họ, nhiều người phải trốn sang Iran. Bây giờ họ nên tin vào các lời hứa hẹn của Mỹ hay của Iran? Nước Iran đồng đạo lúc nào cũng ở bên cạnh, trong khi nước Mỹ ở quá xa và quyền lợi khắp thế giới quá rộng lớn, đã từng nhường Việt Nam cho Nga và Trung Quốc để đổi lại những thỏa hiệp hạn chế vũ khí hạch tâm với Nga và Mao Trạch Ðông mở cửa nước Trung Hoa. Từ khi chính phủ Mỹ giúp lập nên một chính quyền Iraq, đã có ít nhất ba ông thủ tướng lên xuống. Ðối với chính phủ Mỹ thì họ không quan tâm đến cá nhân mà chỉ coi chức vụ thủ tướng, với các chương trình hành động mới là quan trọng. Ðó là lối suy nghĩ khi nước Mỹ chọn một đảng cầm quyền. Nhưng ở các nước khác, nhất là trong thế giới Á rập, liên hệ cá nhân quan trọng hơn tính chất của những vai trò do cá nhân đó đóng.
Một trong những cột mốc mà Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra là “hòa hợp giữa các phe phái ở Iraq.” Làm cách nào để hòa hợp họ? Quý vị trong Ủy ban chỉ đến Iraq khoảng 4 ngày, làm việc hoàn toàn trong Khu vực Xanh, có thể nói là không gặp gỡ một thường dân Iraq nào. Những đại biểu của các phe phái gặp họ không thể nói hết những mâu thuẫn và yêu cầu của họ, vì nhiều điều yêu cầu đó không thể nói trước công chúng! Các lãnh tụ phe phái đó cũng có thể bị chính những người trong phe họ lật đổ hay li khai; một tổ chức có kỷ luật và đoàn kết nhất là Dân quân Madhi của giáo sĩ Moqtada al-Sadr nay cũng đã có những nhóm ly khai. Khi nào thì chính phủ hoặc quốc hội Mỹ có thể ký giấy chứng nhận là ông Maliki đã thực hiện đủ và đạt được cột mốc “hòa giải”?
Ủy Ban Baker-Hamilton đề nghị phải tăng cường việc huấn luyện và quân đội và cảnh sát Iraq. Quân đội này hiện có 138,000 người nhưng các toán quân đó thực sự có tuân lệnh của chính phủ Maliki hay họ sẽ theo lệnh ngầm của các phe phái, điều này không biết được. Ðạo quân đó không phải chỉ thiếu huấn luyện mà còn thiếu đủ thứ trang bị và vũ khí. Số 188,000 cảnh sát còn bị ảnh hưởng của các giáo sĩ nhiều hơn nữa. Trong vùng ổn định nhất thuộc quân Anh chiếm đóng, nhiều toán cảnh sát đã đóng vai trò dân quân của một phe đi bắt, giết những người thuộc phe khác.
Một cột mốc khác mà Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra là chính phủ Iraq phải bảo đảm được an ninh ở trong nước. An ninh hay không hoàn toàn tùy thuộc các phe phái ở Iraq có chịu nhường nhịn nhau để cùng chống lại các toán du kích từ bên ngoài xâm nhập hay không. Họ sẽ chấp nhận được lẫn nhau khi nào mỗi nhóm dù nhỏ nhất cũng cảm thấy được an toàn, không lo bị một hay nhiều nhóm khác lấn áp hoặc tiêu diệt. Chỉ cần một nhóm nhỏ, cho tới giờ vẫn vô danh, đặt bom phá một đền thờ Shi A lớn ở Samara đầu năm nay là đủ tạo nên những vụ tàn phá và giết tróc dây chuyền ngày càng mạnh hơn cho tới giờ chưa dứt. Trong lịch sử, nước Iraq được sống trong an ninh khi có những chế độ độc tài kiểu Saddam Hussein đàn áp tất cả các nhóm khác. Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận một chế độ như vậy. Bây giờ chỉ có một cách là chia vùng ảnh hưởng cho mỗi nhóm và giúp họ đều mạnh để tự bảo vệ, khi đó họ dễ dàng ngồi xuống nói chuyện với nhau hơn!
Và chỉ khi nào tình hình an ninh tạm ổn mới nói được đến chuyện thực hiện cột mốc thứ ba mà Ủy ban Baker-Hamilton đòi hỏi, là chính phủ Iraq phải cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho dân chúng, như bất cứ tổ chức nào tự nhận là một chính phủ. Cung cấp điện, nước, nhà thương, trường học, hút dầu, xuất cảng dầu và lọc dầu, đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vân vân.
Cho nên, những điều kiện mà Ủy Ban Baker-Hamilton đòi hỏi rút lại vào một vấn đề an ninh. Một chính phủ phôi thai như ở Iraq chỉ đạt được cột mốc đó nếu dân chúng tin rằng họ có thực quyền, có thực lực, không lo nay bị Mỹ chê, mai bị Mỹ trách, lúc nào cũng sợ Mỹ bỏ rơi! Muốn có một chính quyền như vậy, ở một nước phức tạp trong một vùng Trung đông phức tạp, không thể đặt kỳ hạn một, hai năm được. Cùng với cuộc tấn công ngoại giao lâu dài, nước Mỹ phải cam kết ở lại Iraq lâu dài, thì mới bảo đảm được một nước Iraq có an ninh để tự hòa giải và xây dựng.
Hầu như các đề nghị của Ủy Ban Baker-Hamilton không bảo đảm được điều đó, ngược lại, chỉ khiến cho địa vị của chính phủ Iraq hiện nay càng bất định, có thể lung lay hơn! Người ta có thể chỉ trích Tổng Thống George W. Bush nhiều thứ, nhưng phải công nhận ông là người có giác quan thứ sáu về chính trị. Một ngày sau khi Ủy ban Baker-Hamilton phúc trình, ông Bush cùng ông Blair lên tiếng cam kết ủng hộ ông Maliki. Ít nhất, ông Bush đã xóa bớt những mối nghi ngờ về thực tâm của chính phủ ông.
Một điều đáng ngạc nhiên là sau khi bản phúc trình Baker-Hamilton được công bố, ai cũng khen tính chất thực tế của quý vị trong ủy ban này. So với những khẩu hiệu mà ông Bush vẫn hô, như xây dựng dân chủ, chống khủng bố toàn cầu, bảo vệ nền văn minh nhân loại, vân vân, thì các điều Ủy ban Baker-Hamilton nêu lên coi thực tế hơn thật. Nhưng nhìn kỹ thì thấy các đề nghị của ủy ban có vẻ như chỉ là một bản liệt kê những điều mong ước hơn là những hành động thực tế.
Cuối cùng, Ủy Ban Baker-Hamilton có ích lợi gì trong vụ Iraq này? Họ có thể đóng vai che đỡ cho một chính sách thất bại, cho khỏi làm mất uy tín của đảng Cộng Hòa trong kỳ bầu cử năm 2008. Hai năm nữa, dù tình hình Iraq ra sao, người ta vẫn có thể nói rằng chính phủ Mỹ đã làm hết sức theo các khuyến cáo của một ủy ban gồm các nhà thông thái thuộc cả hai đảng. Mọi thất bại đều có thể đổ lên đầu người Iraq, vì họ bất lực, hoặc không có thiện chí, hoặc chưa đủ văn minh để hiểu những người điều Mỹ muốn giúp họ!
Bạn thử giúp một ý kiến hay một giải pháp khả thi. Cảm ơn nhé. Thuận Phong
Thế hệ 1975 — Tin tổng hợpNhóm Nghiên Cứu Iraq: Mỹ Nên Rút Quân Vào Năm 2008
“Tình hình ở Iraq là nghiêm trọng và ngày một xấu đi. Không có giải pháp nào bảo đảm thành công, nhưng viễn tượng có thể cải thiện được”.
Trên đây là tuyên bố của Nhóm Nghiên cứu Iraq (Iraq Study Group) khi công bố bản phúc trình gồm 79 đề nghị trong 142 trang, đã được nhiều người trông đợi, hôm thứ Tư.Nhóm nghiên cứu Iraq gồm lưỡng đảng gồm 10 người thuộc hai đảng Dân Chủ (DC) và Cộng Hoà (CH) viên đứng đầu là cựu ngoại trưởng James Baker (CH) và cựu dân biểu Lee Hamilton (DC).
Phúc trình IRAQNguồn/Ảnh: cbc.ca/AP
Trong bản phúc trình đến tổng thống Bush và quốc hội, nhóm nghiên cứu đề nghị chính phủ Hoa Kỳ thực thi 79 điểm để thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ tại Iraq, trong đó có đối thoại trực tiếp với Iran và Syria trong khuôn khổ một cuộc “tấn công ngoại giao”. Bản phúc trình còn nói đường lối hiện tại của chính quyền Bush không có hiệu quả và khả năng gây ảnh hưởng tại Iraq của Hoa Kỳ cũng ngày một giảm đi.Chính quyền Bush đã nhiều lần từ chối kêu gọi sự giúp đỡ từ Iran và Syria. Trong khi đó nhóm nghiên cứu nói rằng những quốc gia chính trong và ngoài khu vực nên thành lập một nhóm yểm trợ Iraq để Iraq có được an ninh và sự hoà hợp chính trị một cách lâu dài. Ông Hamilton nói: “Nếu chúng ta không đối thoại với các quốc gia khác thì chúng ta sẽ không đạt được tiến bộ”. Bản phúc trình còn cảnh báo quốc hội rằng nếu Hoa Kỳ không hành động thì sẽ có những hậu quả khốc liệt ở trong và ngoài nước Mỹ.Theo bản phúc trình thì bạo động ngày càng tăng trên nhiều phương diện. Những cuộc tấn công nhắm vào quân Mỹ và liên quân ngày càng gia tăng và khoảng 3000 thường dân Iraq bị sát hại mỗi tháng. Sứ mệnh của quân Mỹ tại Iraq nên được chuyển từ tác chiến sang thành huấn luyện và hỗ trợ quân đội Iraq, và các đơn vị tác chiến không cần thiết nên rút khỏi Iraq chậm nhất là vào quý 1 năm 2008. Hoa Kỳ không nên cam kết một cách không rõ ràng để giữ một số quân lớn tại Iraq. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu không đưa ra một kế hoạch rút quân cụ thể nào. Bản phúc trình còn đề nghị Hoa Kỳ nên làm việc với các nhà lãnh đạo Iraq để giúp đạt được những mốc quan trọng về hoà giải quốc gia, an ninh và sự lãnh đạo. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng kêu gọi cải thiện hệ thống tư pháp của Iraq, lãnh vực dầu hỏa và nổ lực tái thiết của Hoa Kỳ .
TT Bush ngồi giữa Lee Hamilton (T) và James Baker (P)Nguồn/Ảnh: cnn.com/AP
Một số nhân vật quan trọng của đảng Dân Chủ ca ngợi bản phúc trình và gọi đó là một hình thức khiển trách đối với chính sách Iraq của Nhà Trắng. Trong khi đó thì ông Bush nói bản phúc trình đánh giá khắc khe tình hình Iraq. Người đứng đầu Nhà Trắng còn nói rằng Tòa Bạch Ốc sẽ xem xét mọi đề nghị một cách kỹ lưỡng và sẽ làm việc với quốc hội để giải quyết vấn đề Iraq. Xuất hiện trên show truyền hình “Larry King Live” của đài CNN tối thứ Tư, ông Tony Snow, người phát ngôn của Nhà Trắng, nói rằng tổng thống Bush sẽ so sánh bản phúc trình của nhóm nghiên cứu Iraq với hai bản báo cáo khác sau này, một của Ban Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) và một của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, trước khi công bố những thay đổi về chính sách Iraq.Riêng tại Iraq thì chính phủ nước này nói bản phúc trình kêu gọi thay đổi chính sách của Mỹ tại Iraq trùng hợp với kế hoạch của họ để ngăn chận tình trạng bạo động tồi tệ tại đâỵ Phát biểu trên đài Al-Arabiya, phó thủ tướng Iraq, ông Barham Saleh, nói không thể dựa vào quân đội nước ngoài một cách tuyệt đối, trọng tâm trước mắt là tăng cường sức mạnh cho các lực lượng gìn giữ an ninh người Iraq. Hôm bản phúc trình được công bố thì có đến 10 binh sĩ Hoa Kỳ và 8 thường dân Iraq bị thiệt mạng. Như vậy là trong 6 ngày đầu của tháng 12 đã có đến 30 binh sĩ Mỹ bị thiệt mạng, so với 69 binh sĩ của toàn tháng trước. Từ khi cuộc chiến bắt đầu đến nay có ít nhất 2 ngàn 918 lính Mỹ tử trận.Mốc điểm đề nghị trong Phúc trình của Nhóm Nghiên cứu Iraq• Cuối 2006, đầu 2007: Định ngày bầu cử và thong qua một số dự luât. Tăng chi bảo đảm an ninh. Tăng lãi suất, và nâng giá đồng dinar (tiền Iraq)• 3/2007: trưng cầu dân ý về các tu chính hiến pháp• 4/2007: Iraq kiểm soát quân đội• 5/2007: Thông qua những thoả ước ân xá hoàn tất tiến trình hoà giải• 6/2007: Bầu cử tỉnh• 9/2007: Người Iraq trách nhiệm kiểm soát tỉnh lị toàn quốc• 12/2007: Hoàn tất cuộc tự bảo vệ (Iraq hoá với hỗ trợ của Hoa Kỳ)• Đầu năm 2008: Hoàn tất huấn luyện quân đội, quân trang. Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu rút khỏi IraqĐồng chủ tịch của bản phúc trình, cựu ngoại trưởng James Baker nói, “Họ (dân tộc Iraq) được giải thoát khỏi cơn ác mộng của một chế độ bạo ngược để phải đối diện với cơn ác mộng đầy bạo động tàn ác. Đã đến giờ tìm lối đi tới mới”.
Nguồn: (1) Iraq Study Group: Change Iraq strategy now(2) Iraqi leaders play down U.S. study group's report(3) 11 U.S. troops killed in Iraq(4) The Iraq Study Group report=======================
Ủy ban Baker-Hamilton thiếu thực tế Thursday, December 07, 2006
Ngô Nhân Dụng
Dù chỉ đọc bản tin sơ sài trên Nhật báo Người Việt về bản phúc trình của Ủy Ban Baker-Hamilton, quý vị cũng có thể thấy trong đó một điểm mâu thuẫn nội tại và căn bản: Ủy ban đưa ra những chính sách để thực hiện trên đường dài, trong khi nhắm đạt được một kết quả ngắn hạn, trong chưa đầy vài năm.
Chính sách lâu dài là mở cuộc tấn công ngoại giao mới (New Diplomatic Offensive, chữ viết hoa trong bản phúc trình). Thí dụ, chấp nhận đối thoại với Iran và Syria, các nước láng giềng của Iraq. Mặt khác, phải cùng các quốc gia Á rập trong vùng giải quyết cuộc xung đột Israel và Palestine, một vấn đề mấu chốt để được các nước Hồi Giáo hợp tác với Mỹ. Kết quả ngắn hạn là chuyển giao nhiệm vụ an ninh lãnh thổ cho chính phủ Iraq để quân Mỹ chỉ còn đóng vai huấn luyện và hỗ trợ, trong vòng 16 tháng nữa có thể rút bớt hàng trăm ngàn quân Mỹ.
Hai vấn đề có liên hệ với nhau.
Nội loạn ở Iraq có thể giảm bớt nếu Iran hợp tác khuyên can các nhóm người theo phái Shi A ở Iraq; nếu Syria ngăn các đám dân quân Sun Ni từ trong và ngoài Iraq, không cho họ dùng Syria làm nơi xâm nhập và trú ẩn; nếu các nước Á rập phái Sun Ni như Sau đi, Jordan, Ai Cập, vân vân, bớt trợ giúp người Sun Ni ở Iraq và khuyên họ bớt phá phách chính phủ Baghdad. Nhưng muốn được các nước đó hợp tác, chính phủ Mỹ sẽ phải vận động nhiều năm, có thể nhiều nhiệm kỳ tổng thống, để mặc cả cho tới khi thỏa mãn nhiều đòi hỏi và điều kiện của họ mà nước Mỹ không thiệt thòi. Biết nước Mỹ mở mặt trận ngoại giao, các quốc gia trên sẽ bắt đầu đặt các điều kiện, yêu cầu Mỹ trả giá. Trước khi đạt được sự thỏa thuận của bấy nhiêu quyền lợi xung khắc, các nước trên khó giúp gì cho chính phủ Mỹ. Ngược lại, họ có thể dùng ảnh hưởng của họ trên các nhóm bên trong Iraq để buộc Mỹ phải nhượng bộ nhiều hơn.
Các hành động ngắn hạn như Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra trong thực chất cũng không khác gì những điều mà chính phủ Bush đang cố thực hiện: Huấn luyện quân đội và cảnh sát Iraq, thúc giục chính phủ Maliki hòa hợp các nhóm tôn giáo và chủng tộc khác nhau, bảo vệ an ninh và cung cấp các dịch vụ tối thiểu cho dân chúng. Quân đội Mỹ chưa làm được các điều trên vì chính phủ Bush phạm những sai lầm chiến thuật, đã bỏ qua không vận động ngoại giao, nhưng cũng vì khả năng vận dụng chỉ có thế thôi, và tình trạng thực tế ở Iraq rắc rối hơn những gì mà các nhân vật trong ủy ban biết rồi dựa theo đó mà đề nghị thay đổi. Ðúng như các tác giả thú nhận, bản phúc trình của Ủy ban Baker-Hamilton không đem đến cho nước Mỹ một “công thức nhiệm mầu” để giải quyết bế tắc ở Iraq.
Nhưng khi đưa ra các đề nghị để đạt tới mục tiêu rút quân khỏi Iraq, ủy ban đã đặt những cột mốc và điều kiện cho chính phủ Iraq, gián tiếp đặt cho chính phủ Bush, mà chính những điều kiện đó, khi công bố và thực hiện có thể khiến việc thực hiện lộ trình của họ gặp nhiều khó khăn hơn.
Ủy Ban Baker-Hamilton tạo áp lực trên Thủ Tướng Nouri al Maliki bằng những “cột mốc” đo lường sự thành công của ông, cũng không khác gì các đại biểu quốc hội Mỹ ngày xưa thường đưa ra những điều kiện để Mỹ tiếp tục viện trợ chính phủ miền Nam Việt Nam. Nhưng địa vị của ông Maliki khó khăn hơn các ông tổng thống Việt Nam Cộng Hòa rất nhiều. Vì các tổng thống Việt Nam thường nắm thực quyền chỉ huy quân đội cùng guồng máy hành chánh, chỉ phải đối đầu với một kẻ địch là Cộng Sản, còn ông Maliki chưa biết đang nắm được những gì ngoài danh hiệu một ông thủ tướng làm việc trong “Khu vực Xanh” được quân Mỹ bảo vệ. Ông không những phải đối phó với các đòi hỏi của nhiều phe Sun Ni đối lập mà còn phải đối phó với các nhóm Shi A đồng đạo nữa, chưa kể các áp lực từ bên ngoài. Ðố ai viết được đầy đủ một bản tóm tắt những động cơ và đòi hỏi của bấy nhiêu phe phái ở Iraq, trong khi chính họ cũng thay đổi theo tình hình trên bàn cờ chính trị và quân sự ở Iraq. Chính bản phúc trình của Ủy Ban Baker-Hamilton cũng thay đổi bàn cờ đó, khiến cho việc tiên đoán các nước cờ mới khó hơn.
Ủy Ban Baker-Hamilton viết rằng “Chính phủ Mỹ phải vạch rõ cho chính phủ Iraq biết là dù họ không thi hành đúng các chương trình được Mỹ đòi hỏi, nước Mỹ sẽ vẫn xúc tiến kế các hoạch của mình, kể cả việc tái phối trí quân đội (nói cách khác, rút quân).”
Khi nghe những lời hăm dọa đó, các đối thủ của ông Maliki có thể sẽ trì hoãn tất cả mọi cộng tác với ông ta, để chờ ngày quân Mỹ rút. Nhiều lãnh tụ Shi A cũng muốn ngồi vào ghế của ông Maliki, chắc sẽ đợi cho ông thất bại để bị Mỹ bỏ rơi. Nhất là sau khi cố vấn an ninh của Tổng thống Bush đã tỏ ý nghi ngờ khả năng của ông ta. Các phe nhóm Sun Ni cũng đủ kiên gan để chờ ngày quân mỹ rút, sẽ đưa ra các đòi hỏi mới trong việc chia sẻ nguồn lợi dầu lửa, đã điều kẹt nhất trong việc hòa giả giữa ba phe Shi A, Sun Ni và người Kurd hiện nay.
Những tín đồ Shi A thực sự đã được quân Mỹ giải phóng khỏi ách độc tài của Saddam Hussein, nhưng họ không hoàn toàn tin tưởng vào thiện ý của người Mỹ. Năm 1991 chính phủ Mỹ đã kêu gọi nổi dậy chống Saddam Hussein, sau đó bỏ mặc cho ông Hussein tàn sát họ, nhiều người phải trốn sang Iran. Bây giờ họ nên tin vào các lời hứa hẹn của Mỹ hay của Iran? Nước Iran đồng đạo lúc nào cũng ở bên cạnh, trong khi nước Mỹ ở quá xa và quyền lợi khắp thế giới quá rộng lớn, đã từng nhường Việt Nam cho Nga và Trung Quốc để đổi lại những thỏa hiệp hạn chế vũ khí hạch tâm với Nga và Mao Trạch Ðông mở cửa nước Trung Hoa. Từ khi chính phủ Mỹ giúp lập nên một chính quyền Iraq, đã có ít nhất ba ông thủ tướng lên xuống. Ðối với chính phủ Mỹ thì họ không quan tâm đến cá nhân mà chỉ coi chức vụ thủ tướng, với các chương trình hành động mới là quan trọng. Ðó là lối suy nghĩ khi nước Mỹ chọn một đảng cầm quyền. Nhưng ở các nước khác, nhất là trong thế giới Á rập, liên hệ cá nhân quan trọng hơn tính chất của những vai trò do cá nhân đó đóng.
Một trong những cột mốc mà Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra là “hòa hợp giữa các phe phái ở Iraq.” Làm cách nào để hòa hợp họ? Quý vị trong Ủy ban chỉ đến Iraq khoảng 4 ngày, làm việc hoàn toàn trong Khu vực Xanh, có thể nói là không gặp gỡ một thường dân Iraq nào. Những đại biểu của các phe phái gặp họ không thể nói hết những mâu thuẫn và yêu cầu của họ, vì nhiều điều yêu cầu đó không thể nói trước công chúng! Các lãnh tụ phe phái đó cũng có thể bị chính những người trong phe họ lật đổ hay li khai; một tổ chức có kỷ luật và đoàn kết nhất là Dân quân Madhi của giáo sĩ Moqtada al-Sadr nay cũng đã có những nhóm ly khai. Khi nào thì chính phủ hoặc quốc hội Mỹ có thể ký giấy chứng nhận là ông Maliki đã thực hiện đủ và đạt được cột mốc “hòa giải”?
Ủy Ban Baker-Hamilton đề nghị phải tăng cường việc huấn luyện và quân đội và cảnh sát Iraq. Quân đội này hiện có 138,000 người nhưng các toán quân đó thực sự có tuân lệnh của chính phủ Maliki hay họ sẽ theo lệnh ngầm của các phe phái, điều này không biết được. Ðạo quân đó không phải chỉ thiếu huấn luyện mà còn thiếu đủ thứ trang bị và vũ khí. Số 188,000 cảnh sát còn bị ảnh hưởng của các giáo sĩ nhiều hơn nữa. Trong vùng ổn định nhất thuộc quân Anh chiếm đóng, nhiều toán cảnh sát đã đóng vai trò dân quân của một phe đi bắt, giết những người thuộc phe khác.
Một cột mốc khác mà Ủy Ban Baker-Hamilton đưa ra là chính phủ Iraq phải bảo đảm được an ninh ở trong nước. An ninh hay không hoàn toàn tùy thuộc các phe phái ở Iraq có chịu nhường nhịn nhau để cùng chống lại các toán du kích từ bên ngoài xâm nhập hay không. Họ sẽ chấp nhận được lẫn nhau khi nào mỗi nhóm dù nhỏ nhất cũng cảm thấy được an toàn, không lo bị một hay nhiều nhóm khác lấn áp hoặc tiêu diệt. Chỉ cần một nhóm nhỏ, cho tới giờ vẫn vô danh, đặt bom phá một đền thờ Shi A lớn ở Samara đầu năm nay là đủ tạo nên những vụ tàn phá và giết tróc dây chuyền ngày càng mạnh hơn cho tới giờ chưa dứt. Trong lịch sử, nước Iraq được sống trong an ninh khi có những chế độ độc tài kiểu Saddam Hussein đàn áp tất cả các nhóm khác. Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận một chế độ như vậy. Bây giờ chỉ có một cách là chia vùng ảnh hưởng cho mỗi nhóm và giúp họ đều mạnh để tự bảo vệ, khi đó họ dễ dàng ngồi xuống nói chuyện với nhau hơn!
Và chỉ khi nào tình hình an ninh tạm ổn mới nói được đến chuyện thực hiện cột mốc thứ ba mà Ủy ban Baker-Hamilton đòi hỏi, là chính phủ Iraq phải cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho dân chúng, như bất cứ tổ chức nào tự nhận là một chính phủ. Cung cấp điện, nước, nhà thương, trường học, hút dầu, xuất cảng dầu và lọc dầu, đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vân vân.
Cho nên, những điều kiện mà Ủy Ban Baker-Hamilton đòi hỏi rút lại vào một vấn đề an ninh. Một chính phủ phôi thai như ở Iraq chỉ đạt được cột mốc đó nếu dân chúng tin rằng họ có thực quyền, có thực lực, không lo nay bị Mỹ chê, mai bị Mỹ trách, lúc nào cũng sợ Mỹ bỏ rơi! Muốn có một chính quyền như vậy, ở một nước phức tạp trong một vùng Trung đông phức tạp, không thể đặt kỳ hạn một, hai năm được. Cùng với cuộc tấn công ngoại giao lâu dài, nước Mỹ phải cam kết ở lại Iraq lâu dài, thì mới bảo đảm được một nước Iraq có an ninh để tự hòa giải và xây dựng.
Hầu như các đề nghị của Ủy Ban Baker-Hamilton không bảo đảm được điều đó, ngược lại, chỉ khiến cho địa vị của chính phủ Iraq hiện nay càng bất định, có thể lung lay hơn! Người ta có thể chỉ trích Tổng Thống George W. Bush nhiều thứ, nhưng phải công nhận ông là người có giác quan thứ sáu về chính trị. Một ngày sau khi Ủy ban Baker-Hamilton phúc trình, ông Bush cùng ông Blair lên tiếng cam kết ủng hộ ông Maliki. Ít nhất, ông Bush đã xóa bớt những mối nghi ngờ về thực tâm của chính phủ ông.
Một điều đáng ngạc nhiên là sau khi bản phúc trình Baker-Hamilton được công bố, ai cũng khen tính chất thực tế của quý vị trong ủy ban này. So với những khẩu hiệu mà ông Bush vẫn hô, như xây dựng dân chủ, chống khủng bố toàn cầu, bảo vệ nền văn minh nhân loại, vân vân, thì các điều Ủy ban Baker-Hamilton nêu lên coi thực tế hơn thật. Nhưng nhìn kỹ thì thấy các đề nghị của ủy ban có vẻ như chỉ là một bản liệt kê những điều mong ước hơn là những hành động thực tế.
Cuối cùng, Ủy Ban Baker-Hamilton có ích lợi gì trong vụ Iraq này? Họ có thể đóng vai che đỡ cho một chính sách thất bại, cho khỏi làm mất uy tín của đảng Cộng Hòa trong kỳ bầu cử năm 2008. Hai năm nữa, dù tình hình Iraq ra sao, người ta vẫn có thể nói rằng chính phủ Mỹ đã làm hết sức theo các khuyến cáo của một ủy ban gồm các nhà thông thái thuộc cả hai đảng. Mọi thất bại đều có thể đổ lên đầu người Iraq, vì họ bất lực, hoặc không có thiện chí, hoặc chưa đủ văn minh để hiểu những người điều Mỹ muốn giúp họ!
Bạn thử giúp một ý kiến hay một giải pháp khả thi. Cảm ơn nhé. Thuận Phong
Giải Pháo nào để giải quyết Chiến tranh Iraq?
Nhà Trắng phản ứng về báo cáo mới
Bản báo cáo dày 142 trang đưa ra 79 khuyến nghị
Nhà Trắng tuyên bố một báo cáo mới đánh giá về chính sách của Mỹ tại Iraq không đưa ra được "công thức kỳ diệu" nào nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng tại đây.
Bản phúc trình này là do một nhóm làm việc thuộc cả hai đảng của Mỹ đưa ra.
Khuyến nghị của nhóm Nghiên cứu Iraq, gọi tắt là ISG, dự kiến bao gồm việc rút lính Mỹ khỏi Iraq theo từng giai đoạn trong vòng 18 tháng tới.
Theo các trích đoạn báo cáo mà hãng ABC News có được, nhóm này đề xuất thảo luận với Iran và Syria về Iraq. Đây là hai nước mà Hoa Kỳ từ chối đàm phán trực tiếp.
Tổng thống George W Bush ra dấu rằng ông sẽ xem xét kỹ bản phúc trình, nhưng không nhất thiết sẽ nghe theo những gợi ý của nhóm nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu này là do cựu Ngoại trưởng Mỹ, James Baker, dẫn đầu.
Hôm thứ Ba, bộ trưởng Quốc phòng mới được bổ nhiệm của Mỹ nói Hoa Kỳ không chiến thắng tại Iraq.
Ông Robert Gates, cũng là cựu thành viên trong nhóm nghiên cứu Iraq, nói tại một buổi họp rằng ông sẵn lòng nghe các ý tưởng mới về Iraq, mặc dù ông cũng khuyến cáo rằng tình hình tại Iraq sẽ định hình tương lai Trung Đông trong nhiều năm tới.
Hôm thứ Ba, Uỷ ban Quân sự trong Thượng viện khuyến nghị ông Gates nên được bổ nhiệm làm người thay thế cho cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld.
Hôm nay, thứ Tư, toàn bộ Thượng viện sẽ thảo luận về việc bổ nhiệm này và dự kiến ông Gates sẽ được phê chuẩn.
Đánh giá chính sách tại Iraq
Tuy cuộc chiến Iraq được coi là một chiến thắng vang dội về mặt quân sự, nay ông Baker và các đồng sự vẫn còn đang phải giải quyết một đống hỗn độn trong có nhiều vấn đề nảy sinh từ hồi năm 2003.
Trong thời gian chiến sự, quân đội Hoa Kỳ đã chạm trán với nhiều bất ngờ, thí dụ như sự kháng cự mãnh liệt của các chiến binh trung thành với Saddam Hussein.
Về khía cạnh nào đó, có thể nói ông Baker dường như là thay thế muộn màng để phần nào che đậy việc yếu kém trong quá trình hoạch định chiến cuộc.
Bạo lực vẫn là vấn đề đau đầu tại Iraq
Thế nhưng thất bại chính mà ông Baker nói tới trong bản phúc trình tất nhiên không phải trong lĩnh vực quân sự, mà là trong chính trị.
Đối với những ai ủng hộ cuộc chiến Iraq mà giờ đây cảm thấy bất mãn, chính phủ ông Bush đơn giản là đã không thể thuyết phục được nước Mỹ trong vấn đề này.
Từ đầu cho tới hôm nay, đã có vô vàn cột mốc chứng tỏ thất bại đó như việc không tìm ra vũ khí hủy diệt hàng loạt mà chính phủ phải thừa nhận hồi tháng 1/2004; rồi vụ bê bối tại nhà tù Abu Ghraib vài tháng sau đó; cũng như việc con số thương vong tăng nhanh đáng kể.
Năm 2005 là một năm mà người ta hứa hẹn sẽ có tiến triển tại Iraq thế nhưng không thực hiện được lời hứa đó.
Thế cho nên vào đầu năm nay, trước khi có cuộc bầu cử giữa kỳ, một dân biểu Cộng hòa đã đưa ra sáng kiến thành lập Nhóm Nghiên cứu Iraq.
Và sự kiện tăng tầm quan trọng cho nhóm này chính là thất bại trong bầu cử giữa kỳ của đảng Cộng hòa cùng việc người dân đòi rút ra khỏi Iraq.
Bối cảnh đó đã dẫn đến việc hôm nay ông Baker trở thành trung tâm điểm chú ý.
Bản báo cáo dày 142 trang đưa ra 79 khuyến nghị
Nhà Trắng tuyên bố một báo cáo mới đánh giá về chính sách của Mỹ tại Iraq không đưa ra được "công thức kỳ diệu" nào nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng tại đây.
Bản phúc trình này là do một nhóm làm việc thuộc cả hai đảng của Mỹ đưa ra.
Khuyến nghị của nhóm Nghiên cứu Iraq, gọi tắt là ISG, dự kiến bao gồm việc rút lính Mỹ khỏi Iraq theo từng giai đoạn trong vòng 18 tháng tới.
Theo các trích đoạn báo cáo mà hãng ABC News có được, nhóm này đề xuất thảo luận với Iran và Syria về Iraq. Đây là hai nước mà Hoa Kỳ từ chối đàm phán trực tiếp.
Tổng thống George W Bush ra dấu rằng ông sẽ xem xét kỹ bản phúc trình, nhưng không nhất thiết sẽ nghe theo những gợi ý của nhóm nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu này là do cựu Ngoại trưởng Mỹ, James Baker, dẫn đầu.
Hôm thứ Ba, bộ trưởng Quốc phòng mới được bổ nhiệm của Mỹ nói Hoa Kỳ không chiến thắng tại Iraq.
Ông Robert Gates, cũng là cựu thành viên trong nhóm nghiên cứu Iraq, nói tại một buổi họp rằng ông sẵn lòng nghe các ý tưởng mới về Iraq, mặc dù ông cũng khuyến cáo rằng tình hình tại Iraq sẽ định hình tương lai Trung Đông trong nhiều năm tới.
Hôm thứ Ba, Uỷ ban Quân sự trong Thượng viện khuyến nghị ông Gates nên được bổ nhiệm làm người thay thế cho cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld.
Hôm nay, thứ Tư, toàn bộ Thượng viện sẽ thảo luận về việc bổ nhiệm này và dự kiến ông Gates sẽ được phê chuẩn.
Đánh giá chính sách tại Iraq
Tuy cuộc chiến Iraq được coi là một chiến thắng vang dội về mặt quân sự, nay ông Baker và các đồng sự vẫn còn đang phải giải quyết một đống hỗn độn trong có nhiều vấn đề nảy sinh từ hồi năm 2003.
Trong thời gian chiến sự, quân đội Hoa Kỳ đã chạm trán với nhiều bất ngờ, thí dụ như sự kháng cự mãnh liệt của các chiến binh trung thành với Saddam Hussein.
Về khía cạnh nào đó, có thể nói ông Baker dường như là thay thế muộn màng để phần nào che đậy việc yếu kém trong quá trình hoạch định chiến cuộc.
Bạo lực vẫn là vấn đề đau đầu tại Iraq
Thế nhưng thất bại chính mà ông Baker nói tới trong bản phúc trình tất nhiên không phải trong lĩnh vực quân sự, mà là trong chính trị.
Đối với những ai ủng hộ cuộc chiến Iraq mà giờ đây cảm thấy bất mãn, chính phủ ông Bush đơn giản là đã không thể thuyết phục được nước Mỹ trong vấn đề này.
Từ đầu cho tới hôm nay, đã có vô vàn cột mốc chứng tỏ thất bại đó như việc không tìm ra vũ khí hủy diệt hàng loạt mà chính phủ phải thừa nhận hồi tháng 1/2004; rồi vụ bê bối tại nhà tù Abu Ghraib vài tháng sau đó; cũng như việc con số thương vong tăng nhanh đáng kể.
Năm 2005 là một năm mà người ta hứa hẹn sẽ có tiến triển tại Iraq thế nhưng không thực hiện được lời hứa đó.
Thế cho nên vào đầu năm nay, trước khi có cuộc bầu cử giữa kỳ, một dân biểu Cộng hòa đã đưa ra sáng kiến thành lập Nhóm Nghiên cứu Iraq.
Và sự kiện tăng tầm quan trọng cho nhóm này chính là thất bại trong bầu cử giữa kỳ của đảng Cộng hòa cùng việc người dân đòi rút ra khỏi Iraq.
Bối cảnh đó đã dẫn đến việc hôm nay ông Baker trở thành trung tâm điểm chú ý.
Ý Kiến của BẠN?
Subscribe to:
Posts (Atom)